Nhận thông tin tư vấn

Quý khách cần tư vấn thông tin thuốc từ đội ngũ y bác sĩ của chúng tôi vui lòng để lại các thông tin dưới đây, chúng tôi sẽ liên lạc lại với quý khách.





    Thuốc Nolvadex-D 20Mg là loại thuốc điều trị ung thư vú hiệu quả

    Liên hệ để biết giá !

     

    Thuốc Nolvadex-D 20Mg là thuốc được sản xuất bởi AstraZeneca UK Limited – một hãng dược phẩm nổi tiếng thế giới của Anh với thành phần chính là Tamoxifen một kháng chất Estrogen không Steroid ngăn chặn sự phát triển ung thư vú bằng cách can thiệp vào tác động của estrogen lên mô vú

    Hãy liên hệ 0978342324 để được tư vấn và hỗ trợ hoặc truy cập vào wedsite thuockedon24h.com để cập nhật giá thuốc cũng như tình hình thuốc Nolvadex-D 20Mg hiện nay.

    Danh mục:

    Thông tin thêm về Thuốc Nolvadex-D 20Mg là loại thuốc điều trị ung thư vú hiệu quả

    Thuốc Nolvadex-D 20Mg là thuốc được sản xuất bởi AstraZeneca UK Limited – một hãng dược phẩm nổi tiếng thế giới của Anh với thành phần chính là Tamoxifen một kháng chất Estrogen không Steroid ngăn chặn sự phát triển ung thư vú bằng cách can thiệp vào tác động của estrogen lên mô vú

    Thông tin của thuốc Nolvadex-D 20mg :

    • Nhà xản xuất thuốc Nolvadex-D 20mg : AstraZeneca UK Limited
    • Phân loại thuốc: thuốc điều trị ung thư vú
    • Công dụng: điều trị ung thư vú
    • Dạng bào chế của thuốc Nolvadex-D 20mg : viên nén bao phim
    • Thành phần có trong mỗi viên thuốc Nolvadex-D 20mg :
    • Hoạt chất:Tamoxifen citrat Ph.Eur. 30.4 mg (tương đương 20mg tamoxifen).
    • Tá dược: Lactose monohydrat, gelatin, croscarmellose natri týp A, tinh bột ngô, magnesi stearat, macrogol 300, hydroxypropylmethylcellulose 2910, titan dioxyd.
    • Quy cách đóng gói: Hộp có 3 vỉ x 10 viên nén bao phim

    Thuốc Nolvadex-D 20mg chữa bệnh gì

    Thuốc Nolvadex-D 20Mg chứa thành phần chính là Tamoxifen một kháng chất Estrogen không Steroid ngăn chặn sự phát triển ung thư vú bằng cách can thiệp vào tác động của estrogen lên mô vú và được chỉ định trong điều trị ung thư vú.

    Thuốc-Novadex-D-là-thuốc-gì
    Thuốc-Novadex-D-là-thuốc-gì

    Ung thư vú

    Ung thư vú là tình trạng bệnh lý trong đó các tế bào vú phát triển mất kiểm soát và sinh ra các khối u ác tính có khả năng phân chia mạnh, xâm nhập và di căn xa.

    Điều trị ung thư vú là sự kết hợp của nhiều phương pháp, bao gồm phẫu thuật, xạ trị và điều trị toàn thân (hóa trị, nội tiết, nhắm trúng đích) nhưng cần phải được cá nhân hóa cho từng bệnh nhân. Tùy theo giai đoạn, mô bệnh học, các thụ thể nội tiết, thể trạng và bệnh đi kèm của từng bệnh nhân mà thầy thuốc sẽ chỉ định áp dụng các phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả điều trị cao nhất. Nó có ít tác dụng phụ không mong muốn nhất.

    Phẫu thuật

    Phẫu thuật là trọng tâm của điều trị ung thư vú, đặc biệt là trong những trường hợp không có di căn xa.

    -Phẫu thuật ung thư vú giai đoạn đầu: Cắt bỏ toàn bộ khối u và nạo vét hạch nách. Với từng bệnh nhân cụ thể, bác sĩ sẽ cân nhắc chỉ định phẫu thuật bảo tồn vú hay cắt bỏ tuyến vú triệt để (cắt bỏ toàn bộ vú). Một phương pháp mới được áp dụng để tránh việc bóc tách hạch không cần thiết là kỹ thuật sinh thiết hạch tĩnh mạch cửa. Cụ thể, các bác sĩ tiêm chỉ số để nhận biết hạch tĩnh mạch cửa (hạch đầu tiên dẫn lưu khối u vú). Nếu xét nghiệm cho thấy tế bào ung thư chưa di căn đến các hạch bạch huyết tĩnh mạch cửa thì không cần phải cắt bỏ hạch. Nách. Ngoài ra, phẫu thuật tái tạo vú sau khi cắt bỏ vú đã được phát triển. Điều này bao gồm phẫu thuật nâng ngực, phẫu thuật tạo hình quầng vú và núm vú, mang lại lợi ích về mặt thẩm mỹ cho bệnh nhân ung thư. Thư ngực.

    – Phẫu thuật đối với ung thư vú tái phát và di căn: Đối với ung thư vú tái phát hoặc di căn, phẫu thuật cũng có những vai trò cụ thể: cắt bỏ vú có tái phát tại chỗ hoặc hạch nách. Phẫu thuật cắt sạch tuyến vú trong trường hợp khối u vú lớn, tuyến tiết nhiều, …

    – Cắt bỏ tuyến vú: Áp dụng cho bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể hormone và có nguy cơ tái phát cao, không phải sau khi mãn kinh. Cắt buồng trứng cũng là một phần của liệu pháp nội tiết.

    Xạ trị

    Xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật và hóa trị liệu ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn đầu như một phần của điều trị. Bây giờ, sau khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ vú, phần còn lại của thành ngực sẽ được chiếu xạ và loại bỏ những tế bào ung thư còn lại dưới kính hiển vi. Ngoài ra, xạ trị sau phẫu thuật bảo tồn ung thư vú là một chỉ định cần thiết và giúp kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh.

    Xạ trị cắt bỏ buồng trứng: Đây cũng là một trong 3 phương pháp cắt buồng trứng nội tiết vừa giúp người bệnh tránh phải phẫu thuật, vừa phải dùng thuốc lâu dài.

    hóa chất

    Hóa trị ung thư vú là phương pháp tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể bằng cách sử dụng các loại thuốc gây độc tế bào. Các phác đồ hóa trị liệu khác nhau có sẵn cho các loại và giai đoạn khác nhau của ung thư vú và phù hợp với từng bệnh nhân. Các chỉ định hóa trị cho bệnh nhân ung thư vú có thể được chia thành ba nhóm:

    – Hóa trị bổ trợ phẫu thuật

    Hóa trị bổ trợ trước hay còn gọi là tân bổ trợ được áp dụng cho những bệnh nhân ung thư vú đã phẫu thuật hoặc không thể phẫu thuật được. Mục đích của hóa trị bổ trợ tân sinh trong giai đoạn không thể chữa khỏi là giảm kích thước của ung thư vú. Khối u và hạch để tăng tỷ lệ phẫu thuật bảo tồn và tăng khả năng phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt để.

    – Hóa trị sau phẫu thuật

    Sau khi phẫu thuật, các bác sĩ sẽ kiểm tra các tiêu bản sau phẫu thuật như khối u, hạch bạch huyết để đánh giá giai đoạn, bệnh và chỉ định hóa trị cho bệnh nhân dựa trên đó. Bệnh nhân ung thư vú bắt đầu hóa trị từ 4-8 tuần sau khi phẫu thuật. Các tác nhân hóa trị liệu đóng vai trò tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại dưới kính hiển vi sau phẫu thuật và kéo dài thời gian sống không bệnh cho bệnh nhân.

    -Hóa chất được sử dụng trong giai đoạn chuyển tiếp:

    Khi bệnh đã di căn sang các cơ quan, bộ phận khác trên cơ thể, tùy từng trường hợp, bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân. Có thể kết hợp với hóa chất và các nhóm thuốc khác. Việc sử dụng thuốc độc tế bào để ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách tiêu diệt tế bào khối u hoặc ngăn chúng phân chia, do đó cải thiện sự tồn tại của các triệu chứng và bệnh tật. Cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mà không có tiến triển.

    Liệu pháp nhắm trúng đích

    Liệu pháp nhắm trúng đích là một phương pháp điều trị Ung thư vú sử dụng những thuốc hoặc những chất xác định và tấn công các tế bào đặc hiệu. Những thuốc điều trị đích thường gây ra ít tác dụng không mong muốn hơn so với là điều trị hoá chất và xạ trị, bao gồm những nhóm sau:

    – Thuốc kháng thể đơn dòng:

    Là những protein thuộc hệ thống miễn dịch của cơ thể, được dùng để tác động vào các tế bào có kháng thể đặc hiệu trên bề mặt, từ đó giúp tiêu diệt, ngăn chặn sự phát triển cũng như việc lan rộng của tế bào ung thư. Hiện tại, những thuốc điều trị đích được sử dụng để điều trị cho những người bệnh có xét nghiệm yếu tố phát triển biểu mô (Her2-neu) dương tính ba cộng (+++), sử dụng được cho cả giai đoạn sớm và giai đoạn di căn. Những thuốc có thể kể đến là: Ado-trastuzumab emtansine (Kadcyla), Trastuzumab, Pertuzumab (Perjeta).

    – Thuốc ức chế loại enzym Tyrosin kinase:

    Những thuốc này tác động dựa trên cơ chế ngăn chặn tín hiệu tăng sinh tế bào đến những tế bào ung thư, ngăn chặn sự phát triển của khối u trong cơ thể. Những thuốc này gồm: Tucatinib, Lapatinib, Neratinib, được áp dụng điều trị cho những người bệnh Ung thư vú có thụ thể phát triển biểu mô (Her2-neu) dương tính ba cộng (+++) đã kháng với loại thuốc kháng thể đơn dòng.

    – Thuốc kháng CDK 4/6:

    Là những thuốc gắn kết và ức chế protein CDK – loại protein tham gia vào quá trình nhân lên cùng phát triển của tế bào. Thuốc kháng CDK 4/6 cũng đã được đưa vào dùng để điều trị cho bệnh nhân Ung thư vú giai đoạn di căn có thụ thể nội tiết dương tính, thụ thể phát triển biểu mô (Her2) âm tính, gồm: Abemaciclib (Verzenio), Palbociclib (Ibrance), Ribociclib (Kisqali),

    – Thuốc kháng PI3K

    Thuốc Alpelisib (Piqray) được sử dụng cho những người bệnh Ung thư vú giai đoạn muộn có thụ thể nội tiết dương tính, Her2 âm tính, đã kháng với những thuốc điều trị nội tiết trước đó.

    – Thuốc kháng mTOR:

    Everolimus (Afinitor) là loại thuốc tác động vào loại protein mTOR trong tế bào, từ đó ngăn chặn khối u phát triển, ngăn chặn sự tạo thành những mạch máu quanh u. Thuốc có hiệu quả trên những người bệnh Ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính, Her2 âm tính.

    – Thuốc ức chế PARP:

    Những thuốc này bao gồm Olaparib (Lynparza) và Talazoparib (Talzenna), được được dùng cho những bệnh nhân Ung thư vú có đột biến gen BRCA1 và BRCA2, Her2 âm tính.

    Điều trị miễn dịch

    Sự ra đời của liệu pháp miễn dịch cũng đã mở ra một hướng đi mới trong điều trị bệnh ung thư. Những thuốc miễn dịch đã được nghiên cứu và được đưa vào phác đồ điều trị của nhiều bệnh ung thư trong đó có bệnh ung thư vú. Phương pháp này dùng hệ thống miễn dịch của cơ thể, khôi phục và thúc đẩy hệ thống miễn dịch nhằm chống lại khối u. Mới đây, thuốc Atezolizumab (Tecentriq) – một loại thuốc miễn dịch ức chế thụ thể PD-L1 trên bề mặt tế bào khối u – đã được dùng để điều trị bệnh Ung thư vú giai đoạn muộn thể bộ ba âm tính, dùng kết hợp với hoá chất nab-paclitaxel và carboplatin. Tiến tới, liệu pháp miễn dịch cũng đã và đang được nghiên cứu trong giai đoạn sớm hơn của bệnh Ung thư vú

    Dược lực học

    Thuốc Nolvadex-D (tamoxifen) thuộc nhóm triphenylen, không steroid có tác động kết hợp của những tác dụng dược lý tương tự chất đồng vận oestrogen và đối kháng oestrogen ở những mô khác nhau, ở người bệnh ung thư vú, tại khối u tamoxifen tác động chủ yếu như là một chất kháng oestrogen, ngăn chặn oestrogen gắn kết vào thụ thể oestrogen. Trên lâm sàng người ta nhận thấy rằng tamoxifen làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần và LDL trong máu khoảng 10 tới 20% ở phụ nữ trong thời kỳ hậu mãn kinh. Thuốc Tamoxifen không có tác động bất lợi trên mật độ khoáng của xương.

    Một nghiên cứu không có đối chứng được thực hiện trên một nhóm không đồng nhất có 28 bệnh nhi nữ từ 2 – 10 tuổi bị hội chứng McCune Albright dùng 20mg tamoxifen một lần mỗi ngày trong vòng 12 tháng. Trong số những người bệnh bị xuất huyết âm đạo trong giai đoạn trước nghiên cứu, 62% (13 trong tổng số 21 người bệnh) không bị xuất huyết âm đạo trong 6 tháng và khoảng 33% (7 trong tổng số 21 người bệnh) không bị xuất huyết âm đạo trong suốt thời gian nghiên cứu. Thể tích trung bình tử cung tăng sau khoảng 6 tháng điều trị và tăng gấp đôi vào cuối thử nghiệm kéo dài khoảng 1 năm. Mặc dù những ghi nhận này phù hợp với đặc tính dược lực học của thuốc tamoxifen, mối liên hệ nhân quả chưa được thiết lập. Chưa có dữ liệu về tính an toàn dài hạn của thuốc đối với trẻ em. Cụ thể là, tác động dài hạn của thuốc tamoxifen đối với sự tăng trưởng, dậy thì và phát triển chung là chưa được nghiên cứu.

    Dược động học

    Sau khi uống, thuốc Nolvadex-D được hấp thu nhanh với nồng độ tối đa trong huyết thanh đạt được trong vòng khoảng 4 – 7 giờ. Nồng độ ở trạng thái hằng định (khoảng 300 ng/ml) đạt được sau khoảng 4 tuần điều trị với liều 40mg mỗi ngày. Thuốc liên kết mạnh với albumin huyết thanh (trên 99%). Chuyển hoá bằng cách hydroxy hoá, demethyl hoá và liên hợp, tạo thành các chất chuyển hóa có tác động dược lý tương tự với hợp chất gốc và góp phần tác động điều trị. Đào thải chủ yếu thông qua phân, thời gian bán thải là khoảng 7 ngày đối với tamoxifen và khoảng 14 ngày đối với chất chuyển hóa chính trong tuần hoàn, N-desmethyltamoxifen.
    Trong một thử nghiêm lâm sàng khi bệnh nhi nữ 2 – 10 tuổi bị hội chứng McCune Albright dùng 20mg tamoxifen một lần mỗi ngày trong khoảng 12 tháng, đã ghi nhận sự giảm độ thanh thải tùy thuộc tuổi, tăng mức tiếp xúc-diện tích dưới đường cong nồng độ theo thời gian AUC (tăng tới 50% ở bệnh nhi nhỏ tuổi nhất) so với ở người lớn.

    Thuốc Nolvadex-D 20mg không sử dụng trong trường hợp nào?

    Chống chỉ định của thuốc Nolvadex-D 20mg: Không dùng thuốc Nolvadex-D 20mg cho những bệnh nhân nhạy cảm với thuốc hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc Nolvadex-D 20mg.

    Cách sử dụng thuốc Nolvadex-D 20mg

    Thuốc Nolvadex-D 20mg được sử dụng qua đường uống có thể uống trong hoặc ngoài bữa ăn.

    Liều dùng của thuốc Nolvadex-D 20mg

    Người lớn (kể cả người cao tuổi): Liều sử dụng từ 20 đến 40 mg/ngày, uống một lần duy nhất hoặc có thể chia làm hai lần. Liều khuyến cáo khoảng 20mg/ngày. Liều 40mg/ngày chỉ dùng khi bệnh nhân không đáp ứng với mức liều 20mg/ngày.
    Sử dụng cho trẻ em:Không khuyến cáo dùng thuốc Nolvadex-D cho trẻ em vì hiệu quả và tính an toàn chưa được thiết lập.
    Suy thận:Không cần phải điều chỉnh liều thuốc thuốc Nolvadex-D cho bệnh nhân suy thận.
    Suy gan:Do thuốc Nolvadex-D được chuyển hóa qua gan nên thận trọng khi dùng cho bệnh nhân suy gan.

    Hướng-dẫn-sử-dụng-thuốc-Nolvadex-D
    Hướng-dẫn-sử-dụng-thuốc-Nolvadex-D

    Làm thế nào nếu lỡ quên 1 liều thuốc Nolvadex-D 20mg :

    Trong trường hợp lỡ quên uống 1 liều thuốc Nolvadex-D 20mg thì bổ sung ngay khi nhớ ra nhưng nếu gân liều tiếp theo thì bỏ qua liều thuốc Nolvadex-D 20mg đã quên. Không dùng gấp đôi liều thuốc Nolvadex-D 20mg quy định để bù vào liều đã quên.

    Làm thế nào nếu dùng quá liều thuốc Nolvadex-D 20mg :

    Theo lý thuyết, việc sử dụng quá liều làm tăng những tác động dược lý được nêu trên. Những quan sát thực nghiệm trên động vật cho thấy với mức liều rất cao (100 – 200 lần so với liều sử dụng hàng ngày), thuốc Nolvadex-D có thể gây ra những tác dụng oestrogen.

    Đã có báo cáo trong y văn là thuốc Nolvadex-D khi sử dụng với liều gấp nhiều lần liều chuẩn có thể liên quan tới sự kéo dài đoạn QT trên điện tâm đồ.

    Hiện không có thuốc giải độc đặc hiệu sử dụng cho trường hợp quá liều và biện pháp xử trí là điều trị triệu chứng.

    Bảo quản thuốc Nolvadex-D 20mg như thế nào?

    Bảo quản thuốc Nolvadex-D 20mg trong bao bì gốc và không bảo quản trên 30oC. Để thuốc Nolvadex-D 20mg tránh xa tầm tay trẻ nhỏ.

    Lưu ý thận trọng khi sử dụng thuốc Nolvadex-D 20mg

    Trong khi điều trị ung thư vú bằng thuốc Nolvadex-D, một số trường hợp người bệnh tiền mãn kinh có thể bị mất kinh.
    Sự gia tăng tần suất rối loạn nội mạc tử cung gồm tăng sản, políp, ung thư nội mạc tử cung và sacôm tử cung (hầu hết dưới dạng u Mullarian thể hỗn hợp ác tính) đã được ghi nhận là có liên quan đến việc điều trị bằng thuốc Nolvadex-D. Cơ chế chưa được biết nhưng có thể liên quan tới đặc tính giống oestrogen của thuốc Nolvadex-D. Cần theo dõi ngay những bệnh nhân đã và đang sử dụng thuốc Nolvadex-D có những triệu chứng phụ khoa bất thường, đặc biệt là xuất huyết âm đạo, hoặc là có biểu hiện rối loạn kinh nguyệt, xuất tiết âm đạo và những triệu chứng như đau hoặc nặng vùng chậu.
    Một số các khối u tiên phát thứ hai xuất hiện ngoài nội mạc tử cung và vú đối diện cũng đã được ghi nhận trong những thử nghiệm lâm sàng ở người bệnh ung thư vú sau khi điều trị bằng thuốc tamoxifen. Mối quan hệ nhân quả vẫn chưa được xác lập và tầm quan trọng về mặt lâm sàng của những quan sát này vẫn chưa rõ ràng.
    Trong phẫu thuật tái tạo vú nhờ kỹ thuật vi phẫu chậm, thuốc Nolvadex-D có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến chứng trên vạt ghép vi mạch.

    Thuyên tắc tĩnh mạch vì huyết khối (VTE)
    -Tăng 2 – 3 lần nguy cơ Thuyên tắc tĩnh mạch vì huyết khối (VTE) đã được ghi nhận trên phụ nữ khỏe mạnh dùng tamoxifen.
    – Bác sĩ cần xem xét kỹ tiền sử bản thân người bệnh và gia đình bệnh nhân có từng bị Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối. Nếu có nguy cơ huyết khối, người bệnh cần được kiểm tra những yếu tố dễ gây huyết khối. Những người bệnh xét nghiệm dương tính cần được hướng dẫn về nguy cơ bị huyết khối. Quyết định dùng thuốc tamoxifen cho các bệnh nhân này nên dựa trên nguy cơ tổng thể đối với người bệnh.
    Ở một số người bệnh đã chọn lọc, việc sử dụng thuốc tamoxifen cùng với thuốc chống đông dự phòng có thể có ích.
    – Nguy cơ Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối tăng thêm khi bệnh nhân bị béo phì nặng, khi tuổingười bệnh tăng và khi có các yếu tố nguy cơ Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối khác. Tất cả người bệnh nên được xem xét cẩn thận về những nguy cơ và lợi ích trước khi điều trị bằng thuốc tamoxifen. Nguy cơ này cũng có thể tăng khi có hóa trị liệu phối hợp. Việc dùng kéo dài thuốc chống đông dự phòng có thể hữu ích cho một số người bệnh có nhiều yếu tố nguy cơ Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối.
    – Phẫu thuật và tình trạng bất động: chỉ nên ngưng trị liệu với thuốc tamoxifen khi nguy cơ huyết khối do tamoxifen vượt trội những nguy cơ do ngưng điều trị. Tất cả người bệnh nên có biện pháp dự phòng huyết khối thích hợp, và nên được hướng dẫn về cách dùng với áp lực trong quá trình nằm viện, tập đi tại sớm, nếu có thể, và điều trị với loại thuốc chống đông.
    – Nếu người bệnh có biểu hiện Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối, nên ngưng ngay thuốc tamoxifen và tiến hành biện pháp chống đông thích hợp. Quyết định sử dụng lại thuốc tamoxifen nên được đánh giá dựa trên nguy cơ tổng thể của người bệnh, ở một số người bệnhchọn lọc, việc dùng tamoxifen cùng với thuốc chống đông dự phòng có thể có ích.
    -Tất cả người bệnh nên liên lạc với bác sĩ ngay lập tức nếu người bệnh có bất kì triệu chứng Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối nào.
    Trong một nghiên cứu không có đối chứng ở trên 28 bệnh nhi nữ từ 2 – 10 tuổi bị hội chứng McCune Albright (MAS) dùng 20mg tamoxifen một lần mỗi ngày trong vòng 12 tháng, thể tích trung bình tử cung tăng sau khoảng 6 tháng điều trị và tăng gấp đôi vào cuối thử nghiệm kéo dài khoảng 1 năm. Mặc dù những ghi nhận này phù hợp với đặc tính dược lực học của thuốc tamoxifen, nhưng mối liên hệ nhân quả chựa được thiết lập.

    Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú dùng thuốc Nolvadex-D 20mg được không?

    Phụ nữ có thai:

    Thuốc Nolvadex-D không được dùng trong thời gian mang thai. Một số ít trường hợp nhưlà sẩy thai tự nhiên, khuyết tật thai và thai lưu đã được ghi nhận ở phụ nữ có thai dùng thuốc Nolvadex-D, mặc dù mối quan hệ nhân quả hiện chưa được xác lập.
    Những nghiên cứu độc tính trên hệ sinh sản ở chuột, thỏ và khỉ cho thấy thuốc Nolvadex-D không có tiềm năng gây quái thai. Đối với sự phát triển hệ sinh sản của bào thai với loài gậm nhấm, thuốc tamoxifen liên quan đến các thay đổi tương tự với những thay đổi do ethynyl-oestradiol, oestradiol, clomiphen và diethylstilboestrol (DES) gây ra. Mặc dù mối liên quan trên mặt lâm sàng của các thay đổi này chưa được biết, nhưng một vài thay đổi, đặc biệt là sự phát triển bất thường của biểu mô tuyến trong âm đạo tương tự với các thay đổi ở phụ nữ trẻ sử dụng DES ở tử cung và những người bệnh có 1/1000 nguy cơ ung thư tế bào sáng ở âm đạo hoặc cổ tử cung. Chỉ một số nhỏ người bệnh là phụ nữ có thai sử dụng thuốc tamoxifen, ở những người bệnh nữ trẻ tuổi sử dụng tamoxifen này, không ghi nhận bất cứ sự phát triển bất thường của biểu mô tuyến trong âm đạo hoặc ung thư tế bào sáng tại âm đạo hoặc tại cổ tử cung.
    Người bệnh nữ không nên có thai trong khi đang điều trị bằng thuốc Nolvadex-D và nên dùng biện pháp tránh thai không hormon hoặc dạng vách ngăn. Người bệnh tiền mãn kinh cần được khám nghiệm cẩn thận nhằm loại trừ khả năng có thai trước khi điều trị. Nên thông báo cho người bệnh về mối nguy cơ tiềm ẩn đối với bào thai nếu có thai trong khi điều trị bằng thuốc Nolvadex-D hoặc trong vòng 2 tháng sau khi dừng điều trị.
    Phụ nữ cho con bú:

    tuy chưa xác định rõ thuốc Nolvadex-D có bài tiết qua sữa mẹ hay không, người ta vẫn khuyến cáo không sử dụng thuốc Nolvadex-D trong thời kỳ cho con bú. Sự quyết định dừng cho con bú hoặc ngưng sử dụng thuốc nên tùy thuộc vào mức độ quan trọng của việc sử dụng thuốc đối với người mẹ.

    Thuốc Nolvadex-D 20mg có ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc không?

    Chưa có bằng chứng cho thấy thuốc Nolvadex-D 20mg làm suy giảm những hoạt động này. Tuy nhiên để đảm bảo an toàn hãy thận trọng, đảm bảo đủ tỉnh táo và tập trung trong những hoạt động lái xe vận hành máy móc.

    Tác dụng phụ của thuốc Nolvadex-D 20mg

    Tác dụng phụ của thuốc Nolvadex-D có thể phân loại theo tác động dược lý của thuốc như xuất huyết âm đạo, nóng bừng mặt, tiết dịch âm đạo, ngứa âm hộ và phản ứng da xung quanh bướu hay là theo tác dụng ngoại ý thường gặp như nhức đầu, rối loạn tiêu hóa, chóng mặt và ít gặp hơn là ứ dịch cơ thể và rụng tóc.
    Khi những tác dụng phụ này nặng, có thể xử trí bằng cách giảm liều (tới mức không dưới 20mg/ngày) mà không ảnh hưởng tới việc kiểm soát bệnh. Nếu những tác dụng phụ không giảm khi giảm liều, thì có thể cần phải ngưng trị liệu.
    Nổi mẩn ở da (kể cả những trường hợp hiếm gặp như ban đỏ đa dạng, viêm mao mạch da, hội chứng Stevens-Johnson, dạng pemphigut bọng nước) và những phản ứng quá mẫn, kể cả phù mạch cũng thường được ghi nhận.
    Ít gặp trường hợp người bệnh di căn xương bị tăng canxi trong máu khi bắt đầu điều trị.
    Hiện tượng giảm tiểu cầu, thường giảm còn khoảng 80.000 đến 90.000/mm3, đôi khi thấp hơn, được ghi nhận ở người bệnh ung thư vú điều trị bằng thuốc tamoxifen.
    Những trường hợp rối loạn thị giác, bao gồm thay đổi hiếm gặp tại giác mạc và những báo cáo thường gặp về bệnh võng mạc đã được ghi nhận ở những người bệnh điều trị bằng thuốc Nolvadex-D. Bệnh đục thủy tinh thể thường được ghi nhận là có liên quan đến việc sử dụng thuốc Nolvadex-D.

    Những trường hợp bệnh lý thần kinh thị giác và viêm thần kinh thị giác đã được ghi nhận trên người bệnh dùng thuốc tamoxifen, và một số ít trường hợp là xảy ra mù lòa.
    Rối loạn cảm giác ( gồm dị cảm và loạn vị giác) được ghi nhận thường gặp ở người bệnh sử dụng thuốc Nolvadex-D.
    U xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và các thay đổi nội mạc khác kể cả tăng sản và políp cũng đã được ghi nhận.
    U nang buồng trứng hiếm khi quan sát thấy ở những người bệnh sử dụng thuốc Nolvadex-D. Polyp âm đạo hiếm khi quan sát thấy ở những người bệnh sử dụng thuốc Nolvadex-D.
    Hiện tượng giảm bạch cầu quan sát thấy sau khi sử dụng thuốc Nolvadex-D, thỉnh thoảng có liên quan tới tình trạng thiếu máu và/hoặc giảm tiểu cầu. Giảm bạch cầu trung tính được ghi nhận tại một số hiếm trường hợp; đôi khi có thể trở nên trầm trọng và hiếm những trường hợp mất bạch cầu hạt được ghi nhận.
    Tai biến mạch máu não vì thiếu máu cục bộ và tắc mạch vì huyết khối kể cả huyết khối tĩnh mạch sâu, huyết khối vi mạch và nghẽn mạch phổi cũng thường xảy ra khi điều trị bằng thuốc Nolvadex-D.
    Dùng chung thuốc Nolvadex-D với những chất gây độc tế bào có thể làm tăng nguy cơ tắc mạch do huyết khối.
    Vọp bẻ ở chân và đau cơ cũng đã được báo cáo là thường xảy ra ở người bệnh sử dụng thuốc Nolvadex-D.
    Ít gặp những trường hợp viêm phổi mô kẽ đã được ghi nhận.
    Thuốc Nolvadex-D có liên quan tới thay đổi nồng độ men gan và một số tình trạng bất thường tại gan trầm trọng hơn, mà trong vài trường hợp có thể dẫn tới tử vong, kể cả gan nhiễm mỡ, suy gan, xơ gan, ứ mật và viêm gan, tổn thương tế bào gan (bao gồm hoại tử gan).
    Thường gặp là hiện tượng tăng nồng độ triglycerid huyết thanh, trong vài trường hợp có thể xảy ra viêm tụy do sử dụng thuốc Nolvadex-D.
    Ít gặp ung thư nội mạc tử cung cũng hiếm gặp trường hợp sacôm tử cung (hầu hết dưới dạng u Mullarian thể hỗn hợp ác tính) có liên quan đến điều trị bằng thuốc Nolvadex-D.
    Viêm da lupus ban đỏ rất hiếm khi quan sát thấy ở những người bệnh sử dụng thuốc Nolvadex-D.
    Rối loạn chuyển hóa porphyrin rất hiếm khi quan sát thấy ở những người bệnh sử dụng thuốc Nolvadex-D.

    Tương tác của thuốc Nolvadex-D 20mg

    Dùng chung thuốc Nolvadex-D với những thuốc kháng đông máu loại coumarin có thể sẽ làm tăng đáng kể tác dụng chống đông máu. Khi bắt đầu sử dụng kết hợp thuốc như thế nên theo dõi người bệnh cẩn thận.

    Dùng chung thuốc Nolvadex-D với những chất gây độc tế bào, để điều trị ung thư vú, có thể sẽ làm tăng nguy cơ tắc mạch do huyết khối. Do sự tăng nguy cơ tắc mạch do huyết khối này, dự phòng huyết khối nên được xem xét ở người bệnh trong giai đoạn hóa trị liệu phối hợp.

    Sử dụng thuốc tamoxifen phối hợp với chất ức chế aromatase như là điều trị bổ trợ không cho thấy được cải thiện hiệu quả so với đơn trị tamoxifen.

    Do thuốc Nolvadex-D được chuyển hóa qua hệ thống men Cytochrome P450 3A4, nên khi sử dụng chung với những thuốc như rifampicin, được biết gây cảm ứng men này thì cần thận trọng vì nồng độ của tamoxifen có thể bị giảm. Mối liên quan trên lâm sàng của sự giảm nồng độ đó vẫn chưa rõ.

    Tương tác về dược động học với loại chất ức chế enzym CYP2D6 cho thấy giảm nồng độ huyết tương của chất chuyển hóa có hoạt tính của tamoxifen, 4-hydroxy-N-desmethyltamoxifen (endoxifen) cũng đã được báo cáo trong y văn. Đã ghi nhận giảm hiệu quả của tamoxifen khi sử dụng đồng thời với một số thuốc chống trầm cảm loại ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (như là paroxetin).

    Review của khách hàng về chất lượng sản phẩm thuốc Nolvadex-D Tab 20Mg

    Ưu điểm
    – Có thể uống cả trong hoặc là ngoài bữa ăn.
    – Thuốc Nolvadex-D Tab 20Mg được hấp thu nhanh bằng đường uống.
    Nhược điểm
    – Thuốc Nolvadex-D Tab 20Mg có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn.
    – Thuốc Nolvadex-D Tab 20Mg không sử dụng cho phụ nữ có thai.

    Một số sản phẩm tương tự thuốc Nolvadex-D 20mg :

    Một số sản phẩm cùng thành phần Tamoxifen

    • Thuốc Nolvadex 10mg – AstraZeneca Singapore Pte., Ltd. – Singapore
    • Thuốc Tamifine 20mg – CTMedochemie Ltd

    Thuốc Nolvadex-D 20Mg giá bao nhiêu?

    Giá thuốc Nolvadex-D 20Mg bao nhiêu? Thuốc Nolvadex-D 20Mg là thuốc được sản xuất bởi AstraZeneca UK Limited – một hãng dược phẩm nổi tiếng thế giới của Anh với thành phần chính là Tamoxifen một kháng chất Estrogen không Steroid ngăn chặn sự phát triển ung thư vú bằng cách can thiệp vào tác động của estrogen lên mô vú.. Giá thuốc Nolvadex-D 20Mg có thể có sự chênh lệch với nhau tuỳ thuộc vào mức giá vận chuyển và mức giá trúng thầu của công ty tại bệnh viện đó, tuy nhiên mức chênh lệch giữa các bệnh viện thường không cao.

    Thuốc-Novadex-giá-bao-nhiêu
    Thuốc-Novadex-giá-bao-nhiêu

    Hãy liên hệ 0978342324 để được tư vấn và hỗ trợ hoặc truy cập vào wedsite thuockedon24h.com để cập nhật giá thuốc cũng như tình hình thuốc Nolvadex-D 20Mg hiện nay.

    Đánh giá

    Chưa có đánh giá nào.

    Hãy là người đầu tiên nhận xét “Thuốc Nolvadex-D 20Mg là loại thuốc điều trị ung thư vú hiệu quả”

    Gọi Điện Thoại Zalo Facebook